Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Hội đồng Giáo xứ vùng Lăng Cô, Giáo phận Huế học tập Quy chế Hội đồng Giáo xứ và về truyền giáo

Tôma Hoàng Kim Khánh 

Khoảng 70 học viên là các thành viên Hội đồng Giáo xứ và các Trưởng Ban, Ngành, Đoàn thể thuộc 4 giáo xứ Loan Lý, Sao Cát, Lăng Cô, Hói Dừa thuộc Giáo hạt Hải Vân, của Giáo phận Huế tham dự buổi học tập Quy chế Hội đồng Giáo xứ và hai đề tài: “Truyền giáo theo giáo huấn Chúa Giêsu và Đức Thánh Cha Phanxicô”, và “Giáo xứ với sứ mạng Loan báo Tin Mừng”.
Buổi học tập bắt đầu từ 8g30 đến 11g45, ngày 22/3/2015 (Chúa nhật V Mùa Chay), tại Nhà thờ giáo xứ Lăng Cô, cách thành phố Huế 70km về phía Nam.
Đồng hành với các học viên có cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Quản hạt; cha Phaolô Ngô Thanh Sơn, Quản xứ Loan Lý; cha Phaolô Trần Khôi, Quản xứ Sao Cát; cha Benêđictô Phạm Tuấn, Quản xứ Hói Dừa; cha Phaolô Phạm Tá, Quản xứ Lăng Cô và hai cha giáo Antôn Nguyễn Văn Tuyến, Quản xứ Phú Hậu và cha Phaolô Nguyễn Luận, Quản xứ Hà Úc.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Nhìn nhận sự tự do cá nhân là giá trị căn bản của người Kitô hữu

Charles Gave
 
Charles Gave (14.9.1943) người Pháp: chủ tịch Viện nghiên cứu về Tự do, một cơ quan tư vấn (think tank) độc lập. Ông là nhà kinh kế và tài chánh. Ông được công chúng biết đến qua một tiểu luận “Des lions menés par des ânes – Đàn Sư tử được đàn lừa dẫn dắt” (Nxb. Robert Laffont, năm 2001). Ông tố cáo đồng Euro và các hoạt động  tiền tệ của nó. Tác phẩm mới nhất của ông “L’État est mort, vive l‘état -Nhà Nước đã chết, nhà nước muôn năm” (Nxb. François Bourin phát hành 2009) đã tiên báo trước việc suy sụp của Ai Cập và Tây Ban Nha. Ông là sáng lập viên và chủ tịch công ty nghiên cứu các thị trường kinh tế và tài chính Gavekal Research (www.gavekal.com) và công ty chứng khoán Gavekal Securities. Charles Gave còn là thành viên Hội đồng quản trị của SCOR[1].

Tự do cá nhân, nền tảng chính của xã hội Tây phương. Tin Mừng được xem như là suối nguồn của sự tự do này. Các nước Tây phương nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, khác hẳn với trách nhiệm mang tính tập thể của hệ thống tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Ai đó đọc sách Tin Mừng không thể không bị đánh thức vì đầy dẫy những tiếng gọi Tự do cá nhân. Hoàn toàn trái ngược với Do Thái giáo, không bao giờ Đức Kitô đề cập đến cộng đồng, nhóm, đến trách nhiệm “tập thể”, đến bộ tộc, đến ‘lý do Nhà Nước’, một cái cớ luôn luôn đưa ra để biện minh cho các tội ác.

Kitô giáo là hệ thống tri thức đầu tiên hoàn toàn phá vỡ chủ nghĩa bộ tộc và những dẫn xuất vô nhân đạo của nó. Vì vậy, Kitô giáo phá bỏ khái niệm tập thể. Không có đạo đức tập thể, chỉ có đạo đức cá nhân. Không có sự Thiện tập thể, chỉ có ở nơi mỗi cá nhân khi sự Thiện được nhân rộng ra.

Thế giới trở nên có tốt đẹp hơn không phải do chúng ta có được một hệ thống chính trị hoàn hảo, điều đó không thể có bởi vì con người là bất toàn (khái niệm về tội nguyên tổ) nhưng là do mỗi người trong chúng ta lao động cải thiện thế giới trong thầm lặng và bằng cách làm tốt những điều ở chung quanh mình, bằng các phương tiện mình có.

Chưa khi nào Đức Kitô nói với một trong các môn đệ của Ngài: “Con hãy đi nói với ông nọ bà kia làm việc này, việc nọ”, chưa khi nào. Ngài nói “Nếu con nghĩ điều gì đó cần phải làm, con hãy làm đi”. Và mục đích duy nhất của Chúa Giêsu là làm sao cho cá nhân chúng ta đích thân gặp Ngài.

Đối với Ngài, rõ ràng Thiên Chúa chỉ biết MỘT người và để đến với Thiên Chúa phải qua Ngài và chỉ một mình Ngài mà thôi. Khi mỗi một người muốn hoàn thiện bản thân không thể không nói đến mối tương quan với người khác, vì vậy, không ai được quyền xét đoán hành vi người anh em. “Đừng xét đoán nếu anh em không muốn bị xét đoán”. Lời cảnh tỉnh này nói lên trách nhiệm của cá nhân và tự do cá nhân là nhân tố đã khai sinh nên nền văn minh của chúng ta. Bất cứ ai cũng có thể nhận ra được điều này trong đời sống hằng ngày.

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Tự do là gì

Lm Giuse Phan Tấn Thành, OP

Chúng ta sẽ tìm hiểu: từ ngữ, bản chất, các thuộc tính của nó.
A. Từ ngữ: tự do, giải phóng
Tự do là một danh từ rất quen thuộc trong ngôn ngữ hằng ngày cũng như trong ngôn ngữ chính trị (Độc lập – Tự do – Hạnh phúc). Tuy nhiên, nếu chúng ta lật lại văn chương cổ điển Việt Nam (thí dụ tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh), có lẽ chúng ta sẽ không gặp thấy danh từ này. Tại sao vậy? Bởi vì danh từ “tự do” mới được du nhập vào tiếng Trung hoa vào đầu thế kỷ XX[1] để chuyển dịch danh từ liberté (tiếng Pháp) và freedom (tiếng Anh). 

Phải chăng như vậy là khái niệm tự do hoàn toàn xa lạ với tư tưởng Á đông? Không phải thế đâu! Văn hoá cổ truyền Á đông dùng những từ khác để diễn tả quan niệm “liberté”, chẳng hạn như: giải phóng, giải thoát, thoát ly. Trong trận chiến tranh Việt Nam, một lực lượng chính trị quân sự mang danh là “Mặt trận giải phóng” được dịch sang tiếng Pháp là “Front de la libération”. Thử hỏi: “tự do” và “giải phóng” có khác nhau không? Dưới khía cạnh từ ngữ, phải nhận là có sự khác biệt.

1/ “Tự do” là một từ ngữ Hán việt. “Tự” có nghĩa là chính mình (tự ý, tự quyết); “do” có nghĩa là nguồn gốc, căn nguyên bởi đâu mà ra (lý do, nguyên do). Như vậy, “tự do” có nghĩa là cái gì xuất phát từ mình: cái gì do tôi làm ra, căn do bởi mình [2], chứ không bởi ai khác, nó mang tính cách tích cực.

2/ “Giải phóng” (giải thoát, thoát ly) gợi lên một ý tưởng tiêu cực, đó là đưa ra khỏi tình trạng ràng buộc, giam cầm.
Việc phân tích từ ngữ đã đưa tới hai khía cạnh trong khái niệm về tự do: tiêu cực và tích cực.
- Khía cạnh tiêu cực: tôi không bị gò bó, ràng buộc, cưỡng bách bởi một lực lượng bên ngoài.
- Khía cạnh tích cực: tôi tự ý chọn lựa, quyết định hành động.
Chúng ta nên ghi nhận cả hai khía cạnh khi theo dõi những cuộc tranh luận về bản chất của tự do.